CÁCH ĐO BOD, COD, DO NHANH CHÍNH XÁC
1.BOD, COD là gì?
Nhu cầu ôxy hóa sinh học hay nhu cầu ôxy sinh học (ký hiệu: BOD, từ viết
tắt trong tiếng Anh của Biochemical (hay Biological) Oxygen Demand)
là lượng oxy cần cung cấp để oxy hoá các chất hữu cơ trong nước bởi vi sinh
vật. BOD là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được sử dụng để xác
định xem các sinh vật sử dụng hết ôxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào. Nó
được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước cũng như trong sinh thái
học hay khoa học môi trường.
BOD5: Để Oxy hoá hết chất hữu cơ trong nước thường phải mất
20 ngày ở 20oC. Để đơn giản người ta chỉ lấy chỉ số BOD sau khi Oxy
hoá 5 ngày, ký hiệu BOD5. Sau 5 ngày có khoảng 80% chất hữu cơ đã bị
oxy hoá.
COD: nhu cầu ôxy hóa học (COD - viết tắt từ tiếng Anh: chemical oxygen
demand) là lượng oxy có trong Kali bicromat (K2Cr2O7)
đã dùng để oxy hoá chất hữu cơ trong nước. Chỉ số COD được sử dụng rộng rãi để
đo gián tiếp khối lượng các hợp chất hữu cơ có trong nước. Phần lớn các ứng
dụng của COD xác định khối lượng của các chất ô nhiễm hữu cơ tìm thấy trong
nước bề mặt (ví dụ trong các con sông hay hồ), làm cho COD là một phép đo hữu
ích về chất lượng nước. Nó được biểu diễn theo đơn vị đo là miligam trên lít
(mg/L), chỉ ra khối lượng ôxy cần tiêu hao trên một lít dung dịch.
2.Phương pháp xác định BOD
Thử nghiệm BOD được thực hiện bằng cách hòa loãng mẫu nước thử với nước
đã khử ion và bão hòa về ôxy, thêm một lượng cố định vi sinh vật mầm giống, đo
lượng ôxy hòa tan và đậy chặt nắp mẫu thử để ngăn ngừa ôxy không cho hòa tan
thêm (từ ngoài không khí). Mẫu thử được giữ ở nhiệt độ 20°C trong bóng tối để
ngăn chặn quang hợp (nguồn bổ sung thêm ôxy ngoài dự kiến) trong vòng 5 ngày và
sau đó đo lại lượng ôxy hòa tan. Khác biệt giữa lượng DO (ôxy hòa tan) cuối và
lượng DO ban đầu chính là giá trị của BOD. Giá trị BOD của mẫu đối chứng được
trừ đi từ giá trị BOD của mẫu thử để chỉnh sai số nhằm đưa ra giá trị BOD chính
xác của mẫu thử.
Ngày nay việc đo BOD được thực hiện bằng phương pháp chai đo BOD Oxitop:
Đặt chai trong tủ 20oC trong 5 ngày, BOD được đo tự động khi nhiệt
độ đạt đến 20oC. Giá trị BOD được ghi tự động sau mỗi 24 giờ.
3.Phương pháp xác định COD
Trong nhiều năm, tác nhân ôxi hóa mạnh là pemanganat kali (KMnO4)
đã được sử dụng để đo nhu cầu ôxy hóa học. Tính hiệu quả của pemanaganat kali
trong việc ôxi hóa các hợp chất hữu cơ bị dao động khá lớn. Điều này chỉ ra
rằng pemanganat kali không thể có hiệu quả trong việc ôxi hóa tất cả các chất
hữu cơ có trong dung dịch nước, làm cho nó trở thành một tác nhân tương đối kém
trong việc xác định chỉ số COD.
Kể từ đó, các tác nhân ôxi hóa khác như sulfat xêri, iodat kali hay
dicromat kali đã được sử dụng để xác định COD. Trong đó, dicromat kali (K2Cr2O7)
là có hiệu quả nhất: tương đối rẻ, dể dàng tinh chế và có khả năng gần như ôxi
hóa hoàn toàn mọi chất hữu cơ.
Phương pháp đo COD bằng tác nhân oxy hoá cho kết
quả sau 3 giờ và số liệu COD chuyển đổi sang BOD khi việc thí nghiệm đủ nhiều
để rút ra hệ số tương quan có độ tin cậy lớn.
Kết hợp 2 loại số liệu BOD, COD cho phép đánh
giá lượng hữu cơ đối với sự phân hủy sinh học.
Phượng Hải hiện cung cấp thiết bị quan trắc môi trường nước với những đặc tính ưu việt, giải quyết những rắc rối mà
doanh nghiệp đang gặp phải trong việc quan trắc môi trường nước
Hệ thống quan trắc các chỉ tiêu nước như
COD/BOD/pH/DO/Cond/Color... Khi
cần thiết có thế nâng cấp, ghép nối đo thêm các chỉ tiêu khác như độ đục,
phenol, dầu có 10% vòng thơm, Chlorophyl A, Rhodamin, Nitrate, Amoniac,...
Không cần lấy
mẫu, mẫu được đưa trực tiếp vào thiêt bị thông qua một hệ thống bơm ngoài có lưới
lọc, không gây tắc nghẽn đường ống.
Không cần chờ
đợi kết quả: Chu trình đo liên tục, kết quả các thông số đo
đạc sẽ tự động truyền về máy chủ server và hiển thị trên website. Người sử dụng
chỉ cần đăng nhập và xem được kết quả.
Tiết kiệm thời
gian, tiền bạc cho doanh nghiệp, tránh lãng phí nhân lực
Phượng Hải cam
kết mang lại cho khách hàng những sản phẩm chất lượng, hỗ trợ thiết kế theo yêu
cầu của khách hàng.

Nhận xét
Đăng nhận xét